Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

CHỈ CÓ KẺ NGU MỚI CHỐNG HOA KỲ

Có thể gây cảm giác khó nghe với nhiều người Việt, nhưng bài này cũng nên đọc xem ông Lý Quang Diệu nói có phải không?

CHỈ CÓ KẺ NGU MỚI CHỐNG HOA KỲ

Mỹ nhiều trở ngại nhưng vẫn giữ vị trí số một

Cân bằng quyền lực đang chuyển đổi. Về phía châu Á của Thái Bình Dương, theo thời gian Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc gây ảnh hưởng. Mọi chuyện sẽ không còn như trước. Địa lý là điểm mấu chốt trong trường hợp này. Trung Quốc có lợi thế hơn vì nằm trong khu vực và có khả năng phô trương sức mạnh dễ dàng hơn ở châu Á. Đối với Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng từ cách xa 8.000 dặm là một điều hoàn toàn khác. Sự bất bình đẳng về ý chí, hậu cần và chi phí là rất đáng kể. Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể đuổi kịp người Mỹ một cách nhanh chóng về công nghệ tàu sân bay với sức chứa 5.000 quân và đầu máy hạt nhân. Nhưng cuối cùng, những bất lợi của Hoa Kỳ do khoảng cách địa lý dần sẽ mang tính quyết định. Hoa Kỳ sẽ phải điều chỉnh thế đứng của mình và chính sách của họ trong khu vực này.

                                                               
LyQuangDieu
Ông Lý Quang Diệu
Chính quyền Obama tuyên bố vào năm 2011 rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-Thái Bình Dương với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là Sự Xoay Trục về Châu Á. Trên tờForeign Policy, ngoại trưởng Hillary Clinton giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này như sau: “Các thị trường mở ở châu Á là những cơ hội chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ về đầu tư, thương mại và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến… Về mặt chiến lược, việc gìn giữ hoà bình và an ninh ở khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự tiến bộ trên toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Vào tháng 4 năm 2012, 200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đã được triển khai tới Darwin , Úc trong một phần nỗ lực nhằm tăng cường hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.

Nhiều quốc gia Châu Á chào đón cam kết mới này từ người Mỹ. Trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Kích thước của Trung Quốc có nghĩa là cuối cùng chỉ có Hoa Kỳ – kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN – mới có thể đối trọng lại được nước này

Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem liệu người Mỹ có thể biến ý định thành cam kết trong lâu dài được hay không. Ý định là một mặt, tài trí và khả năng là một mặt khác. Hiện nay Hoa Kỳ có quân ở Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam . (Người Philippines đã không khôn ngoan khi mời người Mỹ rời khỏi vịnh Subic vào năm 1992. Họ quên mất hậu quả về lâu dài của hành động này và bây giờ họ bảo rằng “Hãy làm ơn quay lại.”) Người Mỹ tin rằng họ có sẵn một dàn xếp quân sự trong khu vực cho phép họ cân bằng lại được với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì các vùng nước trong khu vực tương đối nông, người Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng liệu lợi thế này có thể kéo dài được bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Không chắc. Hai mươi năm? Có thể. Rốt cuộc, cân bằng quyền lực có thể thực hiện được hay không còn phải chờ vào nền kinh tế Hoa Kỳ trong một vài thập niên tới. Cần có một nền kinh tế vững mạnh thì mới có thể phô trương quyền lực – đầu tư xây dựng tàu chiến, tàu sân bay và các căn cứ quân sự.

Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị. Cuối cùng, tôi không cho rằng viễn cảnh người Trung Quốc hất cẳng hoàn toàn người Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương có thể diễn ra.

Ví dụ như Việt Nam , là một trong những quốc gia không an tâm nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh tấn công miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để trả đũa việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Đặng phá hủy một vài làng mạc và thị trấn rồi sau đó rút lui, chỉ nhằm đưa ra một lời cảnh cáo với người Việt: “Tôi có thể tiến thẳng vào và tiếp quản Hà Nội.” Đây không phải là bài học mà người Việt có thể quên được. Một chiến lược có lẽ đã được chính phủ Việt Nam bàn đến là làm thế nào để có thể bắt đầu thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.

Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam . Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm bắc hay nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN.

Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng ta không biết Trung Quốc sẽ quyết đoán hay hung hăng như thế nào. Vào năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng lực lượng với Trung Quốc, họ dịch từ đó sang tiếng Trung thành “kìm hãm”. Điều này làm nổi lên một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc. Họ cho rằng làm sao tôi lại dám nói như thế trong khi tôi là người Hoa. Họ quá là nhạy cảm. Thậm chí sau khi tôi giải thích rằng tôi không hề sử dụng từ “kìm hãm”, họ vẫn không hài lòng. Đấy là bề mặt của một thứ quyền lực thô và còn non trẻ.

Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài.

Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore . Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này ra khắp thế giới, nên khi người Mỹ tiếp quản, đó là một sự chuyển đổi dễ dàng sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đây cũng là một lợi thế rất lớn đối với người Mỹ khi trên toàn thế giới đã có nhiều người nói và hiểu ngôn ngữ của họ.

Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn mực tiếng Hoa trong nhà trường để cho học sinh của chúng ta có một lợi thế, nếu họ chọn làm việc hoặc giao thương với Trung Quốc. Nhưng tiếng Hoa vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, vì thậm chí nếu GDP của Trung Quốc có vượt qua Hoa Kỳ, họ cũng không thể cho chúng ta được mức sống mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng ta ít hơn 20%. Phần còn lại của thế giới sẽ giúp Singapore duy trì phát triển và đạt được thịnh vượng – không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, người Đức, người Pháp, người Hà Lan, người Úc, vv…. Các nước này giao dịch kinh doanh bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Sẽ là rất ngu ngốc nếu chúng ta xem xét chọn tiếng Trung làm ngôn ngữ làm việc tại bất kì thời điểm nào trong tương lai, khi mà chính người Hoa cũng rất cố gắng học tiếng Anh từ khi mẫu giáo cho đến bậc đại học.

Cuộc cạnh tranh cuối cùng

Hoa Kỳ không phải đang trên đà suy thoái. Uy tín của Hoa Kỳ đã chịu nhiều tổn thất do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nhưng những sử gia giỏi nhìn nhận sẽ chỉ ra rằng một Hoa Kỳ dường như yếu đi và trì trệ đã từng phục hồi ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Đất nước Hoa Kỳ đã đối mặt nhiều thử thách lớn trong những thời kỳ chưa xa: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt nam, thời kì trỗi dậy của các cường quốc công nghiệp hậu chiến như Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Hoa Kỳ đã tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị trí dẫn đầu cùa mình. Hoa Kỳ đã áp đảo. Nó sẽ thực hiện được điều này một lần nữa.

Thành công của Hoa Kỳ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì không chỉ bằng khả năng đặc biệt sản xuất ra cùng một thứ với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo – tức là sáng chế ra một mặt hàng hay dịch vụ hoàn toàn mới mà thế giới sớm cảm thấy hữu dụng và đáng khát khao. Chiếc iPhone, iPad, Microsoft, Internet – tất cả đều được tạo ra ở Hoa Kỳ chứ không phải nơi nào khác. Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu.

Thậm chí nếu những người theo thuyết suy thoái đúng, và thật là Hoa Kỳ đang trên đà xuống dốc, ta phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn, tôi sẽ chẳng lo lắng lắm nếu chúng ta chọn chính sách sai lầm, vì hậu quả sẽ xuất hiện chậm. Nhưng chúng ta là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, Hoa Kỳ như là một con tàu chở dầu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc thuyền. Nhưng tôi tin rằng các cá nhân tin vào thuyết suy thoái đã sai lầm. Hoa Kỳ sẽ không suy thoái. So sánh tương đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ít uy lực hơn. Có thể khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng và có thể Hoa Kỳ không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.

Tại sao tôi lại tin vào thành công dài hạn của Hoa Kỳ

Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.

Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.

Hoa Kỳ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ chiêu dụ được những tài năng bậc nhất từ Châu Á. Hãy nhìn vào số lượng người Ấn trong các ngân hàng và trường đại học của họ — lấy ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore chọn lựa ở lại Hoa Kỳ sau khi du học. Đó là lí do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh, vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore . Ở Anh, bạn không ở lại vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh không năng động như Mỹ, ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.

Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Hoa khó học hơn tiếng Anh nhiều. Nói tiếng Hoa rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Khi mà bạn không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp. Đây là một rào cản rất lớn. Đây là kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã vật lộn trong suốt 50 năm và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Hoa và viết theo kiểu bính âm (pinyin), nhưng tôi vẫn không thể hiểu được tiếng Hoa một cách thành thục như người bản ngữ. Đấy là tôi đã rất cố gắng. Trung Quốc trở nên hùng cường vào tương lai không thay đổi sự thật cơ bản là tiếng Hoa là một ngôn ngữ cực kì khó học. Có bao nhiêu người đến Trung Quốc, ở lại và làm việc ngoại trừ những người Hoa, người Châu Âu và người Mỹ trở thành những chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng truyền bá ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả không được tốt lắm. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng đã bị đóng cửa vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm công việc đó. Nên về quyền lực mềm thì Trung Quốc không thể thắng.

Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Ở bờ Đông có Boston, New York, Washington, và ở bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung nước Mỹ thì có Chicago và Texas. Bạn sẽ thấy sự đa dạng và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau, không ai nhường ai. Khi người Texas thấy rằng mình có nhiều dầu mỏ, James Baker – cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ và là người Texas – đã cố gắng thành lập một trung tâm ở Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi ông thừa hưởng gia tài từ cha, ông mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu vấn đề này.

Mỗi trung tâm tin rằng mình tốt như các trung tâm còn lại, chỉ cần tiền và nhân tài, điều có thể kiếm được. Không ai cảm thấy phải tuân theo Washington hay New York . Nếu bạn có tiền, bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh. Đây là một thái độ cứng nhắc, yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung tâm duy nhất. Mọi người phải hành quân theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp đều không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mặt này. Ở Pháp ai là nhân tài cuối cùng đều vào các viện đại học nghiên cứu lớn. Ở Anh thì đó là Oxbridge (Đại học Oxford và Đại học Cambridge ). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn vì vậy cũng đồng bộ hơn.

Kể từ cuối thập niên 1970 cho đến thập niên 1980, Hoa Kỳ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay những nền kinh tế mới phục hồi như Nhật Bản và Đức. Họ bị vượt mặt về đồ điện tử, thép, hoá dầu và ngành công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành công nghiệp sản xuất quan trọng huy động nhiều nhân công, kể cả những người lao động phổ thông được các công đoàn bảo vệ. Ở một số nước châu Âu, các công đoàn chống đối các cải cách lao động bằng việc đe dọa tiến hành các hành động công nghiệp có thể mang lại tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn áp dụng những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế và cải tiến năng suất qua việc sử dụng công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin (IT). Nền kinh tế Hoa Kỳ trỗi dậy trở lại. Các doanh nghiệp mới được mở ra để giúp các công ty tối ưu hoá hệ thống IT của mình, như là Microsoft, Cisco và Oracle. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy đau đớn, các công ty có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.

Bạn tiếp tục chứng kiến điều đó ngay lúc này đây. Người Mỹ vận hành một hệ thống gọn gàng hơn và có sức cạnh tranh hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn cố gắng tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có một cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Hoa Kỳ lên xuống như một cái yoyo. Ở thời kì suy thoái, chỉ số thất nghiệp từ 8 đến 10 phần trăm là chuyện hiển nhiên. Kết quả là một tầng lớp dưới hình thành. Giữa những xa hoa, lấp lánh, các cửa hàng đẹp đẽ ở New York , bạn cũng có thể dễ dàng thấy người Mỹ vô gia cư nằm trên vệ đường. Họ không có gì ngoài tấm áo khoác thân và miếng thùng carton để nằm ngủ. Một số người, kể cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã lên án khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở xã hội Mỹ.

Điều này có chấp nhận được không? Tôi không thể nói được. Có những tổ chức tôn giáo và từ thiện giúp đỡ. Một số thành lập những quán ăn tình thương cho người thất nghiệp, vv…. Nhưng mà bạn không thể vừa muốn có chiếc bánh trong tay, vừa muốn ăn nó. Nếu bạn muốn tạo nên sự cạnh tranh mà Hoa Kỳ đang có, bạn không thể tránh được việc tạo nên khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới. Nếu như bạn chọn một nhà nước phúc lợi, như châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bạn tự nhiên sẽ không còn năng động.

Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu lại. Nền văn hoá này khác với Anh, một xã hội tĩnh hơn – nơi mà mọi người biết vị trí phù hợp của mình. Nước Anh rất mang tính châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại – máy hơi nước, máy kéo sợi và động cơ điện. Họ cũng có nhiều giải Nobel khoa học. Nhưng rất ít khám phá trong số này của họ trở nên thành công về mặt thương mại. Tại sao lại như thế? Những năm dài của 2 thế kỉ đế chế đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu cũ và những quý tộc có ruộng đất được kính trọng. Giới nhà giàu mới bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức – những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là lao động cực nhọc hoặc lao động tay chân. Hoa Kỳ thì lại khác, là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí ở các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.

Lý Quang Diệu

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Thấy gì qua "Lịch sử quan hệ ngàn đời Việt Trung"?

Đối chiếu "Lịch sử quan hệ ngàn đời Việt Trung"
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Việt Nam
CỔ ĐẠI






ĐẾ QUỐC

Bắc thuộc lần I (207 TCN - 40)
   Nhà Triệu
(207 - 111 TCN)


Hai Bà Trưng (40 - 43)







Nhà Ngô (938 - 967)
   Loạn 12 sứ quân
Nhà Đinh (968 - 980)
Nhà Tiền Lê (980 - 1009)












Tây Hạ
1038–1227













   Lê sơ
   Lê
   trung
   hưng
Nhà Mạc
Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
HIỆN ĐẠI

Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
   Pháp thuộc (1887 - 1945)
   Đế quốc Việt Nam (1945)









Một là: Lúc nào nó hỗn loạn hoặc bị thằng khác cai trị, may ra lúc đó ta mới có được độc lập.
Hai là: Lúc nào nó thống nhất, "thiên hạ" của nó thái bình là nó nhăm nhe cất quân sang đánh nước mình. 

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

Thấy nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn có suy ngẫm nghiêm túc và sâu sắc. Mình chép lại để khỏi mất.

Vương Trí Nhàn - Thái Lan: Xứ sở biết tự cai trị


Vương Trí Nhàn

Một thoáng trên đường
Ảnh minh họa
Từ phòng ăn của một khách sạn nhỏ nhìn ra, tôi cảm thấy thiên nhiên ở thành phố Đông Nam Á mà mình vừa đến cũng “tự nhiên như nhiên”, cũng ngang dọc cao thấp tùy tiện không ra hàng ra lối, tức không được chăm sóc một cách kỳ khu tinh tế, do đó có cái vẻ mỹ lệ, nó là niềm tự hào về sự có mặt của con người, như ở bên Tầu bên Nhật.
Không có may mắn đi sâu vào những thắng cảnh đẹp nhất của Bangkok, chỉ ngồi xe ô tô du lịch nhìn ra hai bên đường ngoại ô, tôi cũng chỉ thấy những ngôi nhà phần nhiều màu xám, cao ốc đâu chỉ dăm bảy đến mười tầng. Có những khu vực san sát nhà mái tôn kiểu ven đô Sài Gòn. Vào các siêu thị thấy hàng hóa rất nhiều, nhưng trên đường thì thấy ít biển quảng cáo.
Thái Lan với tôi chỉ là vậy. Đó không phải một Thái Lan làm tất cả để mời gọi khách du lịch, như tôi hằng nghe một số bạn đi về kể lại. Tôi cũng bắt gặp ở đây những bãi cỏ hoang lụn vụn. Chạy ngầm dưới mặt tiền một khách sạn là một con cống mà tới quãng lộ thiên thì bốc mùi thoang thoảng khó chịu. Đường rộng nhưng mới chỉ đủ cho xe đi lại và chỉ nhờ người đi xe biết kiềm chế và tôn trọng luật pháp nên không cảm thấy hỗn loạn. Đường thật nhiều ô tô nhưng những xe được sử dụng phần lớn là xe nội địa.
Cảm tưởng chung rút lại là một cái gì không choáng lộn không nổi bật.
Tuy nhiên tôi lại cho rằng chính cái đó là hợp với tình cảnh của một nước Đông Nam Á, khu vực đã từng là mồi ngon cho chủ nghĩa thực dân trong các thể kỉ 18 – 19, và tới nay vẫn không phải là vùng phát triển của thế giới. Mà về mặt văn hóa, nó là khu vực bị kẹt giữa hai nền văn hóa lớn là Trung Hoa và Ấn Độ.
Ở bên nhà, những lúc rỗi, tự đối diện với lòng mình, tôi thường buồn bã nhận ra một điều. Nếu có một cái gì mà làm người ta khó chịu nhất ở Hà Nội, thì đó là việc mọi người cùng hùa nhau tìm cách che giấu thực trạng đang sống, cả nước muốn tô vẽ cho mình, muốn chứng tỏ rằng dân Việt không thua kém gì những nơi khác. Ở Thái Lan, tôi không có cảm tưởng đó. Vừa phải. Biết điều. Chân chất. Giản dị... Thái Lan mà tôi gặp là một cái gì tổng hợp của những phẩm chất đó. Ngay ở các khu chợ ồn ào chật hẹp không thấy khắp nơi là túi ni lông như ở Hà Nội. Cũng như bên Nhật, không thấy cảnh người Thái liến láo nói trong điện thoại.
Trước cửa chùa Phật Vàng (Kim Phật Tự) có một người ăn mày. Ông ta ngồi ăn cơm tay lấy cái thìa xúc cơm ra từ túi ni lông. Nhưng ăn xong, ông không quên gói ghém các thứ rồi lấy dây thun buộc lại cho vào túi sách, -- chứ không thẳng tay quăng ra mặt đường, và nếu quăng được vào những chiếc xe sang trọng đi qua thì càng sung sướng. Ở ông không có lòng căm hận cuả những người nghèo thấy tất cả những người giàu khác là kẻ thù của mình như đám ăn mày Hà Nội. Ông ăn mày Thái đang yên vị trên một chiếc thảm nhỏ dùng để ngồi. Khi hút thuốc lá, ông gạt tàn vào một cái bát đặt ngay bên cạnh.
Sau này đọc báo mới biết Thái Lan là một đất nước của những con người hiền hòa. Khách phương Tây mệnh danh đây là đất nước những nụ cười. Người ta lại còn bảo trong cái cười của người Thái Lan có thoáng qua ý mai – pen – rai, với nghĩa không sao, không có gì đâu mà. Nó xa lạ với những tiếng cười phá trời, cái cười đắc thắng của các đám nhậu bên vỉa hè Hà Nội.
Chiều sâu cuộc sống
Cùng với việc che giấu thực trạng lạc hậu, người Việt mình lại thường thích tô vẽ để trưng ra niềm tự hào thô lỗ về các phong tục tập quán ngàn đời và bảo đó là nền văn hóa “đậm đà bản sắc” không lẫn với ai hết.
Đọc phần văn hóa Thái Lan trên mạng và qua câu chuyện với người hướng dẫn viên, tôi thấy tinh thần chi phối phong tục tập quán ở đây khác hẳn. Xin kể ba ví dụ.
-- Ở nhiều gia đình Việt Nam hiện nay, tới ngày sinh nhật của con cái hình như cả nhà đều bận rộn lo lắng, làm sao để chứng tỏ rằng đứa con có ngày sinh nhật đó là niềm tự hào của gia đình. Còn ở Thái, ngày sinh nhật là dịp để bọn trẻ bộc lộ lòng biết ơn với bố mẹ ông bà và với cuộc đời. Trong ngày sinh nhật, trẻ muốn mình có hình ảnh đẹp hơn, trở nên ngoan ngoãn hơn trong mắt bố mẹ và lấy đó làm niềm hãnh diện.
--Với đà ào ạt trở lại của các hủ tục, các đám ma ở Hà Nội thường ồn ào, người ta như muốn khoe ra sự thương xót đối với người vừa nằm xuống. Còn theo phong tục của Thái Lan, khi đưa đám người chết không nên khóc nhiều, bởi khóc nhiều sẽ làm cho người chết thấy phiền lòng.
-- Trong thái độ đối với tôn giáo, tôi cảm thấy ở người Thái có thái độ thành tín. Các nhà sư được tôn trọng, chùa chiền giữ được vẻ trang nghiêm, thanh tịnh. Cuộc sống như có một cái gì đó thiêng liêng, đó là hương vị mà ở Hà Nội, tôi chỉ cảm thấy hồi nhỏ, trước 1954, kéo dài ra tới đầu những năm sau mươi. Còn từ sau 1965 đến nay, nó đã bị đánh mất dần dần.
Biết cách tổ chức xã hội
Ngay từ trong lời giới thiệu trước chuyến đi, công ti du lịch đã lưu ý chúng tôi về sự sùng bái Hoàng gia của người Thái.
Những câu chuyện của người hướng dẫn địa phương cũng xoay quanh chủ để này. ơn thế nữa, chúng tôiH Hơn thế nữa, chúng tôi còn cảm nghe được rằng đó là những bằng chứng thực chứ không phải những lời lẽ tuyên truyền nhằm áp đặt cho khách từ xa tới.
Hoàng gia Thái Lan tạo được sự kính trọng tuyệt đối trong dân gian. Bất cứ một hành động nào xúc phạm đến Hoàng gia đều có thể bị mọi người chung quanh báo cho cảnh sát biết và bị nghiêm trị. Cho đến việc tiêu tiền nữa, ở Bangkok, người ta chỉ sử dụng tiền Thái vì ở đó có in hình quốc vương mà người ta kính trọng. Một tội lớn trong giao thiệp dành cho người nào dám lấy chân chà đạp lên đồng tiền, vì đó cũng coi là xúc phạm đến giá trị tinh thần của đất nước.
Khi nghe nói đến một nước quân chủ, nhiều người Việt ở tuổi tôi lập tức nhớ lại những bài học được học ở phổ thông. Các vua chúa thời xưa được miêu tả là những người cực kỳ đoảng vị. Nhất là nhà Nguyễn. Thôi thì bạc nhựơc yếu hèn đồi bại đủ thứ. Làm như họ không phải là người Việt.
Sau này tôi được biết rằng thực ra cái lối bôi nhọ giai cấp phong kiến như thế chỉ là sản phẩm của một thời con người quá uất ức muốn thay đổi và đập phá, nên nhìn tất cả những người chủ cũ là có tội. Chứ thực ra giai cấp phong kiến Việt Nam đâu đến nỗi.
Cuối năm 2012, một nhà sử học là anh Cao Tự Thanh vừa dịch và giới thiệu cuốn Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ của Quốc sử quán triều Nguyễn. Cuốn sách cho thấy từ đời Khải Định, nhà vua đã biết đặt ra khẩu hiệu ba vế, bên cạnh Tôn quân quyền, là Khai dân trí, Dụ dân tài (hướng dẫn cho dân làm giàu). Còn nhiều việc khác, chứng tỏ chính quyền lúc ấy biết học hỏi để cải lươngtức cải cách xã hội theo hướng hiện đại.
Trở lại với chuyện bên Thái. Sự kính trọng đối với Hoàng gia có cái lý của nó. Hoàng gia rất xứng đáng với sự kính trọng đó, trước hết là trên phương diện định hướng cho sự phát triển kinh tế quốc gia, mà cũng là cách thức để bảo đảm đời sống cho dân chúng.
Ở khắp nơi trên đất Bangkok và Pattaya, tôi bắt gặp hình ảnh của vua Rama IX là vị vua trị vì từ 1946 tới nay. Người hướng dẫn sớm cho chúng tôi biết rằng, bản thân vua là một trí thức đã từng theo học ở đại học phương Tây. Ông là kỹ sư nông nghiệp. Chính ông đã nghiên cứu để tạo ra giống ổi không hạt, là một thứ hoa quả mà nước Thái có thể xuất khẩu.
Hoàng gia đứng ra bảo lãnh cho những ngành kinh tế mà có thể giúp cho Thái Lan phát triển. Khi tỉnh Phuket bị sóng thần tàn phá, Hoàng gia đã đầu tư vào để giúp tỉnh đó tổ chức lại đời sống. Nghề sản xuất Yến Sào cũng được Hoàng gia bảo trợ và một vị công chúa trực tiếp làm công việc là kiểm tra sản phẩm trước khi xuất xưởng để đảm bảo uy tín của sản phẩm. Một vị công chúa khác vừa học nghề bác sĩ vừa nhận giảng dạy một ít giờ ở trường đại học. Và trong nông nghiệp, thì sau một chuyến sang Việt Nam, bà đã mang về giống thanh long, trở thành giống quả phổ biến ở Thái Lan. Khi tôi đến thăm cửa hàng đá quý, ở đó bên cạnh hình ảnh đức vua đương thời là Rama IX có hình ảnh vua Rama V. Người ta giải thích với tôi là ông này đã có công mang công cụ sản xuất vàng bạc từ phương Tây về để đổi mới công nghệ làm đá quý của nước Thái.
Từ trường hợp của Thái, người ta có thể rút ra cái tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá một chế độ chính trị.
Đã gọi Hoàng gia tức đây không phải là chính quyền của dân, do dân như tình hình ở một số nước châu Á trong thế kỷ XX. Sau khi lật đổ chế độ quân chủ, các nước này thường tuyên bố là dân chủ, tiến bộ. Những người cầm quyền đúng là mới nẩy nòi lên từ đám đông dân chúng thực. Nhưng khi nắm quyền trong tay, họ hoàn toàn chủ quan và tùy tiện trong việc quản lý quốc gia. Các cuộc bầu cử hầu hết đều hình thức giả tạo. Ai đứng ra tổ chức bầu cử kẻ đó được. Cộng với một lý do nữa nghe có vẻ tình nghĩa mà hóa ra gây mầm hậu họa: họ không bao giờ quên là đã hy sinh quá nhiều để ngoi lên địa vị cao nhất xã hội. Với nhiều hình thức khác nhau, họ băm bổ lao vào xoay xỏa kiếm chác, ý muốn đòi hỏi xã hội phải báo ơn cho mình gia đình mình, phe nhóm mình; và khi không được thì quay ra dùng bạo lực trị dân, phản bội ngay cái lý tưởng ban đầu vốn rất tốt đẹp mà họ theo đuổi.
Kinh nghiệm xã hội hiện đại là trong chính trị, rất dễ có sự tách rời giữa cái danh và cái thực, giữa điều người ta tuyên bố thậm chí là cái điều người ta mong muốn và điều làm được. Thái Lan không vụ cái danh mà chỉ lo tính tới cái thực. Thái Lan hiểu rằng cái thời dân chủ theo nghĩa chân chính nhất còn chưa tới.
--Cốt nhất là sự trung thành với tương lai chứ không phải trung thành với quá khứ.
-- Đáng phải lo nhất là sự tử tế của con người và sự thịnh vượng của xứ sở chứ không phải cái tiếng hão lý tưởng này chủ nghĩa nọ.
Trong những ngày đi du lịch bụi trên đất Myanma, tôi đã cảm thấy như thế (xem bài trên blog này 14-3-2014). Hôm nay đến Thái Lan tôi lại cảm thấy như thế.
Tự đổi mới cách cai trị và làm cho nền cai trị có được một bộ máy thích hợp
Một khía cạnh khác làm nên tính chính đáng của Hoàng gia Thái là khả năng tự cải biến tự làm mới mình để phù hợp với sự phát triển của thời đại.
Trong cuốn Lịch sử Đông Nam Á, của D.G.E. Hall (đã dịch ra tiếng Việt) phần viết về Việt Nam, tôi thấy sử gia người Anh nhận định Nguyễn Ánh Gia Long là người sinh ra để chiếm lại đất nước, là người chiến thắng sau những cuộc nội chiến, chứ không phải người sinh ra để cai trị đất nước.
Tôi rất thích cái ý này vì nó gợi cho người ta nhớ lại cách hình thành bộ máy quyền lực thường thấy ở xứ mình. Lịch sử Việt là lịch sử được làm vua thua làm giặc. Người thắng trong những cuộc nội chiến sẽ có tất cả chính nghĩa và mọi thứ vinh quang khác. Rồi nếu như họ lại còn chiến thắng trong công cuộc ngoại xâm nữa, thì quyền quản lý đất nước mặc nhiên là trong tay họ. Họ muốn vầy phò phá nát đất nước thế nào, dân chúng cũng phải chịu. Không phải chỉ có Gia Long mà các đời vua chúa ở Việt Nam đều theo luật như vậy.
Trong khi đó, ở Thái Lan, -- như tôi thấy người ta viết trong sách vở và hôm nay nghe người địa phương kể lại -- nhà cầm quyền biết cai quản đất nước bằng sự nhạy bén của tầng lớp quý tộc nhiều đời cộng với nhận thức tổng quát chính xác về thời đại. Là bộ phận tinh hoa của đất nước, Hoàng gia đã tự biến chuyển để theo kịp với mọi tình thế.
Bên cạnh việc lo bảo đảm phúc lợi cho dân, tính chính danh của Hoàng gia bộc lộ trước tiên là trong việc định hướng lớn cho sự phát triển của đất nước.
Trong khi Anh – Pháp xâm lược hai nước bên cạnh là Myanma và Campuchia thì Thái Lan là nước duy nhất ở Đông Nam Á vẫn giữ được nền độc lập của mình.
Hoàng gia lúc ấy đã sớm hiểu rằng phương Tây là một nền văn hóa văn minh cao hơn mình, và có thể học hỏi họ trong tất cả mọi việc. Thái Lan không chỉ lo mua hàng mà còn muốn mua cả tư duy của phương Tây nữa.
Các hoàng tử và nhiều người trong hoàng tộc được cử sang các nước phương Tây để học từ những nghề nghiệp bình thường cho đến việc tổ chức xã hội.
Vua Rama IV - Mongkut (trị vì 1851 - 1868) là người thành thạo tiếng Anh và ham đọc các sách phương Tây dưới sự hướng dẫn của các ông thầy phương Tây. Ông đã ký với người nước ngoài nhiều hiệp định cần thiết.
Vua Rama V – Chulalongkorn (1868-1910) nhiều lần đi tham khảo học hỏi ở các nước phương Tây. Trong chính phủ của ông có nhiều cố vấn người Bỉ, Đan Mạch. Thời ông, Hoàng gia mở trường do người Anh dạy, trong đó có trường luật. Từ 1844 tới 1877, có ít nhất 7 tờ báo tiếng Anh trong toàn quốc.
Khi Thái khai thông tuyến đường sắt đầu tiên của đất nước, vua Chulalongkorn bảo rằng đó là ngày đẹp nhất của đời mình.
Trong khi ở các nước mới lật đổ chế độ quân chủ, việc quản lý đất nước hoàn toàn có tính cách nghiệp dư, thì Hoàng gia Thái Lan quản lí đất nước với một sự hiểu biết tinh tường về các vấn đề hành chính sự nghiệp.
Châu Âu vốn có nhiều quan niệm hợp lý về tổ chức xã hội. Trong khi Pháp Đức là những nước cộng hòa thì Anh, Hà Lan, Bỉ… lại là các vương quốc. Và Thái Lan đã học theo họ.
Ngày 10/12/1932 Vua Prachadhipok (Rama VII) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên và Thái Lan theo chế độ quân chủ lập hiến. Tuy chủ yếu vẫn dựa trên cơ sở Hiến pháp 1932, nhưng 80 năm qua Thái Lan đã thay đổi gần hai mươi hiến pháp. Hiến pháp lần đầu một đảng, hiến pháp thông qua lần thứ hai đã cho phép đa đảng.
Các thể chế như Thượng viện, Tòa án tối cao… luôn luôn hình thành trong sự phối hợp giữa nguyện vọng của đông đảo dân cư và sự chỉ đạo của Hoàng gia. Quân đội như một bộ phanh hãm, khi chính trường không tìm thấy sự đồng thuận thì quân đội làm nhiệm vụ làm trụ cột tạm giữ cho tình hình trật tự, để mọi ngành mọi giới bàn bạc tiếp. Các tướng lĩnh có thể làm thủ tướng tạm thời, nhưng các bộ thì bao giờ cũng do các nhà chuyên môn nắm.
Chúng tôi đến Thái Lan đúng vào dịp đất nước này vừa qua cuộc đảo chính của giới quân sự. Mặc dầu vậy suốt trên đường đi, không mấy khi thấy bóng những đám lính hay cảnh sát và không khí đằng đằng sát khí của các xứ có thiết quân luật.
Bằng kinh nghiệm Việt Nam, ai cũng nghĩ rằng khi đất nước đang qua cuộc đảo chính như thế này, tức là không ai làm ăn gì nữa, khắp nơi lộn xộn. Nhưng hôm nay, Thái Lan gợi cho người ta nghĩ khác. Ở những nơi nào kia, sự ổn định luôn luôn phải nhờ đến bàn tay của bạo lực, do đó là một sự ổn định giả tạo, nó luôn luôn chông chênh như sẵn sàng bị đánh mất, -- thì ở Thái, sự ổn định nằm sẵn trong cốt cách cuộc sống và mọi biến động trên bề mặt là để đi dần tới sự ổn định mới.
Hoàng gia Thái không phải là loại người cai trị mà lúc nào cũng khoe khoang về công ơn của mình với người dân. Hoàng gia Thái càng không phải là những người cai trị tự cho là mình “biết tuốt”, trong đầu luôn có ảo tưởng rằng mình đưa dân tộc đi lên, trong khi thực tế là lôi cả xã hội rơi xuống vũng bùn của cô độc và lạc hậu. Các đời vua kế tiếp ở Thái hiểu được những giới hạn của họ, cái gì lo được thì lo, không lo được tự để xã hội cùng bàn bạc và thể nghiệm.
Nạn kẹt xe hiện còn khá phổ biến ở Bangkok. Người dân nơi đây khi mắc cảnh kẹt xe yên tâm chờ đợi, không lanh chanh phá luật tìm lối riêng cho xe mình. Bởi họ biết rằng đó là chuyện thường tình ở một nước mới phát triển. Nhất là họ biết rằng bộ máy quản lý giao thông đang suy nghĩ để cấu trúc lại hệ thống, nhằm có được cách sống cách đi lại phù hợp với hoàn cảnh đất nước ngày một phát triển.
Đối với tình hình chính trị, người dân Thái cũng có sự bình tâm và niềm tin tương tự.

Đặt quốc gia mình vào trong xu thế vận động của thế giới
Rộng hơn câu chuyện biết thích ứng với hoàn cảnh, đúng hơn là đặt cơ sở cho việc thích ứng đó, là quan niệm người Thái về vị trí của mình trong thế giới. Sống cạnh Trung quốc nhưng Thái Lan không coi Trung quốc là thiên triều là mẫu mực, nhất là xa lạ với quan niệm chỉ có châu Á mình là văn minh, mà phương Tây là man di mọi rợ. Vua Rama IV - Mongkut (trị vì 1851 - 1868) hiểu thất bại của Trung quốc trước phương Tây lúc đó là do Trung quốc không chịu mở cửa. Và ông đi theo cách của mình như trên đã kể.
Mà chẳng cứ phương Tây, Thái Lan tôn trọng tất cả các dân tộc chung quanh. Đồng thời với việc sang du học phương Tây, vua Rama V (1868 - 1910) từng có những chuyến thăm thú và khảo sát dài ngày sang các nước lân cận.
Trong một bài viết trên mạng bàn về đời sống chính trị Thái Lan, tôi thấy người ta bảo rằng chính sách ngoại giao của Thái Lan là cách tồn tại của cây sậy tức là gió chiều nào ngả theo chiều ấy. Trong việc quan hệ với các quốc gia bên ngoài, họ không tìm cách đẩy xã hội mình đến tình trạng đối đầu mà luôn luôn tìm cách cùng chung sống cùng tồn tại.
Sự khôn ngoan của Thái bộc lộ rõ nhất trong những giai đoạn thế giới có những biến chuyển lớn.
Sử sách còn ghi là hồi Đại chiến thứ hai, lúc đầu Thái Lan cũng cộng tác với người Nhật, đến 1.8. 1944, lập tức trong một đêm quay sang phía người Mỹ.
Dường như Thái Lan muốn tuyên bố nước này không bị ràng buộc bởi tất cả cam kết nhất thời, lại càng không bị ràng buộc bởi những danh tiếng nhăng nhố. Cách xử lí của họ đúng là theo đúng tinh thần mà các nhà chính trị lõi đời ở cả Đông lẫn Tây đều thống nhất: không có bạn vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có quyền lợi của dân tộc là vĩnh viễn. Cần biến thù thành bạn chứ không phải biến bạn thành thù. Không lấy việc làm đau các quốc gia khác làm niềm vui, bởi khi đó chính chúng ta cũng sẽ rơi vào cái cảnh thân tàn ma dại.

Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2014

Tượng đài nghĩa trang liệt sĩ Quảng Trị

                          Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Đường 9 sau khi được nâng cấp. Nguồn: FinancePlus.vn

Các cơ quan tuyên truyền nước ta đưa tin rầm rộ về kết quả nâng cấp nghĩa trang liệt sĩ đường 9 (gần thành phố Đông Hà, Quang Trị). Mình cũng đến đây viếng mộ các liệt sĩ và ngắm nhìn tượng đài. Ô hay, tượng đài về các liệt sĩ mà sáng tác như tượng đài chiến thắng thế kia. Chẳng gây cảm giác bi thương, bi hùng gì cả mà chỉ thấy phơi phới khí thế chiến thắng! Lạc đề!