Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Thấy gì qua "Lịch sử quan hệ ngàn đời Việt Trung"?

Đối chiếu "Lịch sử quan hệ ngàn đời Việt Trung"
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Việt Nam
CỔ ĐẠI






ĐẾ QUỐC

Bắc thuộc lần I (207 TCN - 40)
   Nhà Triệu
(207 - 111 TCN)


Hai Bà Trưng (40 - 43)







Nhà Ngô (938 - 967)
   Loạn 12 sứ quân
Nhà Đinh (968 - 980)
Nhà Tiền Lê (980 - 1009)












Tây Hạ
1038–1227













   Lê sơ
   Lê
   trung
   hưng
Nhà Mạc
Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
HIỆN ĐẠI

Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
   Pháp thuộc (1887 - 1945)
   Đế quốc Việt Nam (1945)









Một là: Lúc nào nó hỗn loạn hoặc bị thằng khác cai trị, may ra lúc đó ta mới có được độc lập.
Hai là: Lúc nào nó thống nhất, "thiên hạ" của nó thái bình là nó nhăm nhe cất quân sang đánh nước mình. 

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

Thấy nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn có suy ngẫm nghiêm túc và sâu sắc. Mình chép lại để khỏi mất.

Vương Trí Nhàn - Thái Lan: Xứ sở biết tự cai trị


Vương Trí Nhàn

Một thoáng trên đường
Ảnh minh họa
Từ phòng ăn của một khách sạn nhỏ nhìn ra, tôi cảm thấy thiên nhiên ở thành phố Đông Nam Á mà mình vừa đến cũng “tự nhiên như nhiên”, cũng ngang dọc cao thấp tùy tiện không ra hàng ra lối, tức không được chăm sóc một cách kỳ khu tinh tế, do đó có cái vẻ mỹ lệ, nó là niềm tự hào về sự có mặt của con người, như ở bên Tầu bên Nhật.
Không có may mắn đi sâu vào những thắng cảnh đẹp nhất của Bangkok, chỉ ngồi xe ô tô du lịch nhìn ra hai bên đường ngoại ô, tôi cũng chỉ thấy những ngôi nhà phần nhiều màu xám, cao ốc đâu chỉ dăm bảy đến mười tầng. Có những khu vực san sát nhà mái tôn kiểu ven đô Sài Gòn. Vào các siêu thị thấy hàng hóa rất nhiều, nhưng trên đường thì thấy ít biển quảng cáo.
Thái Lan với tôi chỉ là vậy. Đó không phải một Thái Lan làm tất cả để mời gọi khách du lịch, như tôi hằng nghe một số bạn đi về kể lại. Tôi cũng bắt gặp ở đây những bãi cỏ hoang lụn vụn. Chạy ngầm dưới mặt tiền một khách sạn là một con cống mà tới quãng lộ thiên thì bốc mùi thoang thoảng khó chịu. Đường rộng nhưng mới chỉ đủ cho xe đi lại và chỉ nhờ người đi xe biết kiềm chế và tôn trọng luật pháp nên không cảm thấy hỗn loạn. Đường thật nhiều ô tô nhưng những xe được sử dụng phần lớn là xe nội địa.
Cảm tưởng chung rút lại là một cái gì không choáng lộn không nổi bật.
Tuy nhiên tôi lại cho rằng chính cái đó là hợp với tình cảnh của một nước Đông Nam Á, khu vực đã từng là mồi ngon cho chủ nghĩa thực dân trong các thể kỉ 18 – 19, và tới nay vẫn không phải là vùng phát triển của thế giới. Mà về mặt văn hóa, nó là khu vực bị kẹt giữa hai nền văn hóa lớn là Trung Hoa và Ấn Độ.
Ở bên nhà, những lúc rỗi, tự đối diện với lòng mình, tôi thường buồn bã nhận ra một điều. Nếu có một cái gì mà làm người ta khó chịu nhất ở Hà Nội, thì đó là việc mọi người cùng hùa nhau tìm cách che giấu thực trạng đang sống, cả nước muốn tô vẽ cho mình, muốn chứng tỏ rằng dân Việt không thua kém gì những nơi khác. Ở Thái Lan, tôi không có cảm tưởng đó. Vừa phải. Biết điều. Chân chất. Giản dị... Thái Lan mà tôi gặp là một cái gì tổng hợp của những phẩm chất đó. Ngay ở các khu chợ ồn ào chật hẹp không thấy khắp nơi là túi ni lông như ở Hà Nội. Cũng như bên Nhật, không thấy cảnh người Thái liến láo nói trong điện thoại.
Trước cửa chùa Phật Vàng (Kim Phật Tự) có một người ăn mày. Ông ta ngồi ăn cơm tay lấy cái thìa xúc cơm ra từ túi ni lông. Nhưng ăn xong, ông không quên gói ghém các thứ rồi lấy dây thun buộc lại cho vào túi sách, -- chứ không thẳng tay quăng ra mặt đường, và nếu quăng được vào những chiếc xe sang trọng đi qua thì càng sung sướng. Ở ông không có lòng căm hận cuả những người nghèo thấy tất cả những người giàu khác là kẻ thù của mình như đám ăn mày Hà Nội. Ông ăn mày Thái đang yên vị trên một chiếc thảm nhỏ dùng để ngồi. Khi hút thuốc lá, ông gạt tàn vào một cái bát đặt ngay bên cạnh.
Sau này đọc báo mới biết Thái Lan là một đất nước của những con người hiền hòa. Khách phương Tây mệnh danh đây là đất nước những nụ cười. Người ta lại còn bảo trong cái cười của người Thái Lan có thoáng qua ý mai – pen – rai, với nghĩa không sao, không có gì đâu mà. Nó xa lạ với những tiếng cười phá trời, cái cười đắc thắng của các đám nhậu bên vỉa hè Hà Nội.
Chiều sâu cuộc sống
Cùng với việc che giấu thực trạng lạc hậu, người Việt mình lại thường thích tô vẽ để trưng ra niềm tự hào thô lỗ về các phong tục tập quán ngàn đời và bảo đó là nền văn hóa “đậm đà bản sắc” không lẫn với ai hết.
Đọc phần văn hóa Thái Lan trên mạng và qua câu chuyện với người hướng dẫn viên, tôi thấy tinh thần chi phối phong tục tập quán ở đây khác hẳn. Xin kể ba ví dụ.
-- Ở nhiều gia đình Việt Nam hiện nay, tới ngày sinh nhật của con cái hình như cả nhà đều bận rộn lo lắng, làm sao để chứng tỏ rằng đứa con có ngày sinh nhật đó là niềm tự hào của gia đình. Còn ở Thái, ngày sinh nhật là dịp để bọn trẻ bộc lộ lòng biết ơn với bố mẹ ông bà và với cuộc đời. Trong ngày sinh nhật, trẻ muốn mình có hình ảnh đẹp hơn, trở nên ngoan ngoãn hơn trong mắt bố mẹ và lấy đó làm niềm hãnh diện.
--Với đà ào ạt trở lại của các hủ tục, các đám ma ở Hà Nội thường ồn ào, người ta như muốn khoe ra sự thương xót đối với người vừa nằm xuống. Còn theo phong tục của Thái Lan, khi đưa đám người chết không nên khóc nhiều, bởi khóc nhiều sẽ làm cho người chết thấy phiền lòng.
-- Trong thái độ đối với tôn giáo, tôi cảm thấy ở người Thái có thái độ thành tín. Các nhà sư được tôn trọng, chùa chiền giữ được vẻ trang nghiêm, thanh tịnh. Cuộc sống như có một cái gì đó thiêng liêng, đó là hương vị mà ở Hà Nội, tôi chỉ cảm thấy hồi nhỏ, trước 1954, kéo dài ra tới đầu những năm sau mươi. Còn từ sau 1965 đến nay, nó đã bị đánh mất dần dần.
Biết cách tổ chức xã hội
Ngay từ trong lời giới thiệu trước chuyến đi, công ti du lịch đã lưu ý chúng tôi về sự sùng bái Hoàng gia của người Thái.
Những câu chuyện của người hướng dẫn địa phương cũng xoay quanh chủ để này. ơn thế nữa, chúng tôiH Hơn thế nữa, chúng tôi còn cảm nghe được rằng đó là những bằng chứng thực chứ không phải những lời lẽ tuyên truyền nhằm áp đặt cho khách từ xa tới.
Hoàng gia Thái Lan tạo được sự kính trọng tuyệt đối trong dân gian. Bất cứ một hành động nào xúc phạm đến Hoàng gia đều có thể bị mọi người chung quanh báo cho cảnh sát biết và bị nghiêm trị. Cho đến việc tiêu tiền nữa, ở Bangkok, người ta chỉ sử dụng tiền Thái vì ở đó có in hình quốc vương mà người ta kính trọng. Một tội lớn trong giao thiệp dành cho người nào dám lấy chân chà đạp lên đồng tiền, vì đó cũng coi là xúc phạm đến giá trị tinh thần của đất nước.
Khi nghe nói đến một nước quân chủ, nhiều người Việt ở tuổi tôi lập tức nhớ lại những bài học được học ở phổ thông. Các vua chúa thời xưa được miêu tả là những người cực kỳ đoảng vị. Nhất là nhà Nguyễn. Thôi thì bạc nhựơc yếu hèn đồi bại đủ thứ. Làm như họ không phải là người Việt.
Sau này tôi được biết rằng thực ra cái lối bôi nhọ giai cấp phong kiến như thế chỉ là sản phẩm của một thời con người quá uất ức muốn thay đổi và đập phá, nên nhìn tất cả những người chủ cũ là có tội. Chứ thực ra giai cấp phong kiến Việt Nam đâu đến nỗi.
Cuối năm 2012, một nhà sử học là anh Cao Tự Thanh vừa dịch và giới thiệu cuốn Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ của Quốc sử quán triều Nguyễn. Cuốn sách cho thấy từ đời Khải Định, nhà vua đã biết đặt ra khẩu hiệu ba vế, bên cạnh Tôn quân quyền, là Khai dân trí, Dụ dân tài (hướng dẫn cho dân làm giàu). Còn nhiều việc khác, chứng tỏ chính quyền lúc ấy biết học hỏi để cải lươngtức cải cách xã hội theo hướng hiện đại.
Trở lại với chuyện bên Thái. Sự kính trọng đối với Hoàng gia có cái lý của nó. Hoàng gia rất xứng đáng với sự kính trọng đó, trước hết là trên phương diện định hướng cho sự phát triển kinh tế quốc gia, mà cũng là cách thức để bảo đảm đời sống cho dân chúng.
Ở khắp nơi trên đất Bangkok và Pattaya, tôi bắt gặp hình ảnh của vua Rama IX là vị vua trị vì từ 1946 tới nay. Người hướng dẫn sớm cho chúng tôi biết rằng, bản thân vua là một trí thức đã từng theo học ở đại học phương Tây. Ông là kỹ sư nông nghiệp. Chính ông đã nghiên cứu để tạo ra giống ổi không hạt, là một thứ hoa quả mà nước Thái có thể xuất khẩu.
Hoàng gia đứng ra bảo lãnh cho những ngành kinh tế mà có thể giúp cho Thái Lan phát triển. Khi tỉnh Phuket bị sóng thần tàn phá, Hoàng gia đã đầu tư vào để giúp tỉnh đó tổ chức lại đời sống. Nghề sản xuất Yến Sào cũng được Hoàng gia bảo trợ và một vị công chúa trực tiếp làm công việc là kiểm tra sản phẩm trước khi xuất xưởng để đảm bảo uy tín của sản phẩm. Một vị công chúa khác vừa học nghề bác sĩ vừa nhận giảng dạy một ít giờ ở trường đại học. Và trong nông nghiệp, thì sau một chuyến sang Việt Nam, bà đã mang về giống thanh long, trở thành giống quả phổ biến ở Thái Lan. Khi tôi đến thăm cửa hàng đá quý, ở đó bên cạnh hình ảnh đức vua đương thời là Rama IX có hình ảnh vua Rama V. Người ta giải thích với tôi là ông này đã có công mang công cụ sản xuất vàng bạc từ phương Tây về để đổi mới công nghệ làm đá quý của nước Thái.
Từ trường hợp của Thái, người ta có thể rút ra cái tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá một chế độ chính trị.
Đã gọi Hoàng gia tức đây không phải là chính quyền của dân, do dân như tình hình ở một số nước châu Á trong thế kỷ XX. Sau khi lật đổ chế độ quân chủ, các nước này thường tuyên bố là dân chủ, tiến bộ. Những người cầm quyền đúng là mới nẩy nòi lên từ đám đông dân chúng thực. Nhưng khi nắm quyền trong tay, họ hoàn toàn chủ quan và tùy tiện trong việc quản lý quốc gia. Các cuộc bầu cử hầu hết đều hình thức giả tạo. Ai đứng ra tổ chức bầu cử kẻ đó được. Cộng với một lý do nữa nghe có vẻ tình nghĩa mà hóa ra gây mầm hậu họa: họ không bao giờ quên là đã hy sinh quá nhiều để ngoi lên địa vị cao nhất xã hội. Với nhiều hình thức khác nhau, họ băm bổ lao vào xoay xỏa kiếm chác, ý muốn đòi hỏi xã hội phải báo ơn cho mình gia đình mình, phe nhóm mình; và khi không được thì quay ra dùng bạo lực trị dân, phản bội ngay cái lý tưởng ban đầu vốn rất tốt đẹp mà họ theo đuổi.
Kinh nghiệm xã hội hiện đại là trong chính trị, rất dễ có sự tách rời giữa cái danh và cái thực, giữa điều người ta tuyên bố thậm chí là cái điều người ta mong muốn và điều làm được. Thái Lan không vụ cái danh mà chỉ lo tính tới cái thực. Thái Lan hiểu rằng cái thời dân chủ theo nghĩa chân chính nhất còn chưa tới.
--Cốt nhất là sự trung thành với tương lai chứ không phải trung thành với quá khứ.
-- Đáng phải lo nhất là sự tử tế của con người và sự thịnh vượng của xứ sở chứ không phải cái tiếng hão lý tưởng này chủ nghĩa nọ.
Trong những ngày đi du lịch bụi trên đất Myanma, tôi đã cảm thấy như thế (xem bài trên blog này 14-3-2014). Hôm nay đến Thái Lan tôi lại cảm thấy như thế.
Tự đổi mới cách cai trị và làm cho nền cai trị có được một bộ máy thích hợp
Một khía cạnh khác làm nên tính chính đáng của Hoàng gia Thái là khả năng tự cải biến tự làm mới mình để phù hợp với sự phát triển của thời đại.
Trong cuốn Lịch sử Đông Nam Á, của D.G.E. Hall (đã dịch ra tiếng Việt) phần viết về Việt Nam, tôi thấy sử gia người Anh nhận định Nguyễn Ánh Gia Long là người sinh ra để chiếm lại đất nước, là người chiến thắng sau những cuộc nội chiến, chứ không phải người sinh ra để cai trị đất nước.
Tôi rất thích cái ý này vì nó gợi cho người ta nhớ lại cách hình thành bộ máy quyền lực thường thấy ở xứ mình. Lịch sử Việt là lịch sử được làm vua thua làm giặc. Người thắng trong những cuộc nội chiến sẽ có tất cả chính nghĩa và mọi thứ vinh quang khác. Rồi nếu như họ lại còn chiến thắng trong công cuộc ngoại xâm nữa, thì quyền quản lý đất nước mặc nhiên là trong tay họ. Họ muốn vầy phò phá nát đất nước thế nào, dân chúng cũng phải chịu. Không phải chỉ có Gia Long mà các đời vua chúa ở Việt Nam đều theo luật như vậy.
Trong khi đó, ở Thái Lan, -- như tôi thấy người ta viết trong sách vở và hôm nay nghe người địa phương kể lại -- nhà cầm quyền biết cai quản đất nước bằng sự nhạy bén của tầng lớp quý tộc nhiều đời cộng với nhận thức tổng quát chính xác về thời đại. Là bộ phận tinh hoa của đất nước, Hoàng gia đã tự biến chuyển để theo kịp với mọi tình thế.
Bên cạnh việc lo bảo đảm phúc lợi cho dân, tính chính danh của Hoàng gia bộc lộ trước tiên là trong việc định hướng lớn cho sự phát triển của đất nước.
Trong khi Anh – Pháp xâm lược hai nước bên cạnh là Myanma và Campuchia thì Thái Lan là nước duy nhất ở Đông Nam Á vẫn giữ được nền độc lập của mình.
Hoàng gia lúc ấy đã sớm hiểu rằng phương Tây là một nền văn hóa văn minh cao hơn mình, và có thể học hỏi họ trong tất cả mọi việc. Thái Lan không chỉ lo mua hàng mà còn muốn mua cả tư duy của phương Tây nữa.
Các hoàng tử và nhiều người trong hoàng tộc được cử sang các nước phương Tây để học từ những nghề nghiệp bình thường cho đến việc tổ chức xã hội.
Vua Rama IV - Mongkut (trị vì 1851 - 1868) là người thành thạo tiếng Anh và ham đọc các sách phương Tây dưới sự hướng dẫn của các ông thầy phương Tây. Ông đã ký với người nước ngoài nhiều hiệp định cần thiết.
Vua Rama V – Chulalongkorn (1868-1910) nhiều lần đi tham khảo học hỏi ở các nước phương Tây. Trong chính phủ của ông có nhiều cố vấn người Bỉ, Đan Mạch. Thời ông, Hoàng gia mở trường do người Anh dạy, trong đó có trường luật. Từ 1844 tới 1877, có ít nhất 7 tờ báo tiếng Anh trong toàn quốc.
Khi Thái khai thông tuyến đường sắt đầu tiên của đất nước, vua Chulalongkorn bảo rằng đó là ngày đẹp nhất của đời mình.
Trong khi ở các nước mới lật đổ chế độ quân chủ, việc quản lý đất nước hoàn toàn có tính cách nghiệp dư, thì Hoàng gia Thái Lan quản lí đất nước với một sự hiểu biết tinh tường về các vấn đề hành chính sự nghiệp.
Châu Âu vốn có nhiều quan niệm hợp lý về tổ chức xã hội. Trong khi Pháp Đức là những nước cộng hòa thì Anh, Hà Lan, Bỉ… lại là các vương quốc. Và Thái Lan đã học theo họ.
Ngày 10/12/1932 Vua Prachadhipok (Rama VII) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên và Thái Lan theo chế độ quân chủ lập hiến. Tuy chủ yếu vẫn dựa trên cơ sở Hiến pháp 1932, nhưng 80 năm qua Thái Lan đã thay đổi gần hai mươi hiến pháp. Hiến pháp lần đầu một đảng, hiến pháp thông qua lần thứ hai đã cho phép đa đảng.
Các thể chế như Thượng viện, Tòa án tối cao… luôn luôn hình thành trong sự phối hợp giữa nguyện vọng của đông đảo dân cư và sự chỉ đạo của Hoàng gia. Quân đội như một bộ phanh hãm, khi chính trường không tìm thấy sự đồng thuận thì quân đội làm nhiệm vụ làm trụ cột tạm giữ cho tình hình trật tự, để mọi ngành mọi giới bàn bạc tiếp. Các tướng lĩnh có thể làm thủ tướng tạm thời, nhưng các bộ thì bao giờ cũng do các nhà chuyên môn nắm.
Chúng tôi đến Thái Lan đúng vào dịp đất nước này vừa qua cuộc đảo chính của giới quân sự. Mặc dầu vậy suốt trên đường đi, không mấy khi thấy bóng những đám lính hay cảnh sát và không khí đằng đằng sát khí của các xứ có thiết quân luật.
Bằng kinh nghiệm Việt Nam, ai cũng nghĩ rằng khi đất nước đang qua cuộc đảo chính như thế này, tức là không ai làm ăn gì nữa, khắp nơi lộn xộn. Nhưng hôm nay, Thái Lan gợi cho người ta nghĩ khác. Ở những nơi nào kia, sự ổn định luôn luôn phải nhờ đến bàn tay của bạo lực, do đó là một sự ổn định giả tạo, nó luôn luôn chông chênh như sẵn sàng bị đánh mất, -- thì ở Thái, sự ổn định nằm sẵn trong cốt cách cuộc sống và mọi biến động trên bề mặt là để đi dần tới sự ổn định mới.
Hoàng gia Thái không phải là loại người cai trị mà lúc nào cũng khoe khoang về công ơn của mình với người dân. Hoàng gia Thái càng không phải là những người cai trị tự cho là mình “biết tuốt”, trong đầu luôn có ảo tưởng rằng mình đưa dân tộc đi lên, trong khi thực tế là lôi cả xã hội rơi xuống vũng bùn của cô độc và lạc hậu. Các đời vua kế tiếp ở Thái hiểu được những giới hạn của họ, cái gì lo được thì lo, không lo được tự để xã hội cùng bàn bạc và thể nghiệm.
Nạn kẹt xe hiện còn khá phổ biến ở Bangkok. Người dân nơi đây khi mắc cảnh kẹt xe yên tâm chờ đợi, không lanh chanh phá luật tìm lối riêng cho xe mình. Bởi họ biết rằng đó là chuyện thường tình ở một nước mới phát triển. Nhất là họ biết rằng bộ máy quản lý giao thông đang suy nghĩ để cấu trúc lại hệ thống, nhằm có được cách sống cách đi lại phù hợp với hoàn cảnh đất nước ngày một phát triển.
Đối với tình hình chính trị, người dân Thái cũng có sự bình tâm và niềm tin tương tự.

Đặt quốc gia mình vào trong xu thế vận động của thế giới
Rộng hơn câu chuyện biết thích ứng với hoàn cảnh, đúng hơn là đặt cơ sở cho việc thích ứng đó, là quan niệm người Thái về vị trí của mình trong thế giới. Sống cạnh Trung quốc nhưng Thái Lan không coi Trung quốc là thiên triều là mẫu mực, nhất là xa lạ với quan niệm chỉ có châu Á mình là văn minh, mà phương Tây là man di mọi rợ. Vua Rama IV - Mongkut (trị vì 1851 - 1868) hiểu thất bại của Trung quốc trước phương Tây lúc đó là do Trung quốc không chịu mở cửa. Và ông đi theo cách của mình như trên đã kể.
Mà chẳng cứ phương Tây, Thái Lan tôn trọng tất cả các dân tộc chung quanh. Đồng thời với việc sang du học phương Tây, vua Rama V (1868 - 1910) từng có những chuyến thăm thú và khảo sát dài ngày sang các nước lân cận.
Trong một bài viết trên mạng bàn về đời sống chính trị Thái Lan, tôi thấy người ta bảo rằng chính sách ngoại giao của Thái Lan là cách tồn tại của cây sậy tức là gió chiều nào ngả theo chiều ấy. Trong việc quan hệ với các quốc gia bên ngoài, họ không tìm cách đẩy xã hội mình đến tình trạng đối đầu mà luôn luôn tìm cách cùng chung sống cùng tồn tại.
Sự khôn ngoan của Thái bộc lộ rõ nhất trong những giai đoạn thế giới có những biến chuyển lớn.
Sử sách còn ghi là hồi Đại chiến thứ hai, lúc đầu Thái Lan cũng cộng tác với người Nhật, đến 1.8. 1944, lập tức trong một đêm quay sang phía người Mỹ.
Dường như Thái Lan muốn tuyên bố nước này không bị ràng buộc bởi tất cả cam kết nhất thời, lại càng không bị ràng buộc bởi những danh tiếng nhăng nhố. Cách xử lí của họ đúng là theo đúng tinh thần mà các nhà chính trị lõi đời ở cả Đông lẫn Tây đều thống nhất: không có bạn vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có quyền lợi của dân tộc là vĩnh viễn. Cần biến thù thành bạn chứ không phải biến bạn thành thù. Không lấy việc làm đau các quốc gia khác làm niềm vui, bởi khi đó chính chúng ta cũng sẽ rơi vào cái cảnh thân tàn ma dại.

Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2014

Tượng đài nghĩa trang liệt sĩ Quảng Trị

                          Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Đường 9 sau khi được nâng cấp. Nguồn: FinancePlus.vn

Các cơ quan tuyên truyền nước ta đưa tin rầm rộ về kết quả nâng cấp nghĩa trang liệt sĩ đường 9 (gần thành phố Đông Hà, Quang Trị). Mình cũng đến đây viếng mộ các liệt sĩ và ngắm nhìn tượng đài. Ô hay, tượng đài về các liệt sĩ mà sáng tác như tượng đài chiến thắng thế kia. Chẳng gây cảm giác bi thương, bi hùng gì cả mà chỉ thấy phơi phới khí thế chiến thắng! Lạc đề!

Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

SÓC TRĂNG tháng 6/2014

Hai năm rồi mình mới có dịp quay lại Sóc Trăng. Lần này thì nghỉ và giảng ngay ở khu chính của Trường Cao đẳng Cộng đồng. Nơi nghỉ và làm việc tốt hơn nhiều so với địa điểm cũ.


Mình cũng có dịp lượn lại chùa Dơi (Chùa Mã Tộc, chùa Wathsêrâytecho Mahatup). Ngôi chùa được xây dựng cách đây 400 năm tại tỉnh Sóc Trăng. Chùa có hàng ngàn bảo vật quý gồm tượng Phật và tứ linh Long Ly Quy Phượng đều được nặn bằng đất sét.
Gọi  là chùa Dơi vì ngôi chùa này từ lâu đã là trung tâm trú ẩn của các “Ngài Dơi”. Rất nhiều! Nhưng nghe nói bây giờ đã giảm đi nhìn thấy. Vì sao chẳng ai biết.

Lần đầu tiên mình tới chiêm ngưỡng chùa Chén kiểu (Chùa Sà Lôn, tiếng Khmer: Wath Sro Loun, hay Wath Chro Luông). Đây là một ngôi chùa cổ thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer, tọa lạc bên Quốc lộ 1A, cách Trung tâm thành phố Sóc Trăng khoảng 12 km về hướng Bạc Liêu (ngồi sau xe máy thấy cũng hơi xa).
Để dễ phát âm, từ "Sro Loun" được đọc chại thành "Sà Lôn". "Sro Loun" lại có nguồn gốc từ chữ "Chro Luong", là tên của một con rạch chạy dọc theo đường làng trước đây ở gần chùa.
Sở dĩ chùa Sà Lôn còn được gọi là "chùa Chén Kiểu" là do dùng những mảnh chén, đĩa sứ ốp lên tường để trang trí.
Chùa tọa lạc trong một khuôn viên rất rộng với nhiều cây xanh. Hai bên cổng ngự hai con sư tử bằng đá trên bệ cao, hướng ra lộ. Trên cổng xây ba ngôi tháp, được trang trí theo kiến trúc truyền thống của đồng bào Khmer ở Nam Bộ. Tháp chính nằm ở giữa, màu vàng, bên trong có lồng kính, tôn trí một pho tượng Phật ngồi uy nghi. Trên thành cổng là tên chùa bằng chữ Khmer và chữ Việt (chùa Sà Lôn).
Ngôi chính điện là một tòa nhà kiên cố và rộng lớn. Nền lát gạch bông, và phần lớn các mảng tường ở đây cũng đều được ốp gạch men (đủ màu, và lớn nhỏ khác nhau) thời hiện đại.
Cũng giống như những ngôi chùa Khmer khác, mái chánh điện chùa chùa Sà Lôn được xây dựng theo dạng tam cấp, tức có 3 nếp, nếp dưới cùng lớn nhất và nhỏ dần ở bên trên. Nếp trên cùng có hình tam giác, hai đầu đao mỗi bên cong lên, và nơi trung tâm có đỉnh nhọn cao vút. Mái được trang trí nhiều họa tiết với màu sắc rất đẹp mắt. Mặt sau chính điện là một mảng tường đắp nổi bởi nhiều mảnh chén kiểu vỡ rất sắc sảo.
Phía trong chánh điện có đặt một bàn thờ, và chỉ thờ duy nhất Phật Thích Ca. Có khoảng 20 tượng phật ở đây; lớn, nhỏ đứng ngồi nhiều tư thế khác nhau, và các gương mặt đều nhìn về hướng Đông để ban phúc.
Về kiến trúc, ở đây có 16 hàng cột to chống đỡ mái, và đều được dán bằng gạch men. Trên trần có trang trí họa tiết nhiều màu sặc sỡ, và hai bên bức tường có nhiều tranh vẽ kể về cuộc đời của Phật Thích Ca.

Giữa sân chùa Sà Lôn là một cột cờ với hình tượng rắn thần Nagar xòe 5 đầu, nhắc đến điển tích rắn xòe đầu ra để che mưa cho Phật Thích Ca khi người tọa thiền. Bao quanh khu cột cờ này, là các dãy nhà nhằm phục vụ cho việc tu học của các sư sãi.
Phía sau chùa là Khu vườn Phật Thích Ca. Đây là quần thể kiến trúc gồm nhiều tượng Phật lớn nhỏ, mô phỏng khá sinh động quá trình ra đời, đi tìm chân lý, giác ngộ cho đến khi nhập cõi Niết-bàn của đức Phật ấy.

Và cũng tương tự như những ngôi chùa Khmer khác, tượng các tiên nữ, Krud (hay Garuda), sư tử thần,… cũng được dùng để trang trí tại chùa Sà Lôn.

Trong chùa hiện còn lưu giữ một số đồ gỗ được nhà chùa mua lại trong phần gia sản của "Công tử Bạc Liêu" (Trần Trinh Huy) năm 1947, với giá khá cao. Đó là chiếc tủ cẩn xà cừ, bộ trường kỷ cùng 2 chiếc giường ngủ mùa đông và mùa hè. Tất cả đều được chạm, khảm rất cầu kỳ, thể hiện sự xa hoa của một người ăn tàn phá tán.  
 


Nếu có dịp quay lại Sóc Trăng, mình sẽ đi thăm Chùa Bốn Mặt thuộc xã Phú Tân, huyện Châu Thành, cách TP. Sóc Trăng khoảng 6 km theo hướng về huyện Kế Sách.  Nghe giời thiệu trên truyền hình mà dịp này không còn thời gian để đi. Nhất định sẽ đến veni vidi mà không vici cái gì cả!

CÓ “DANH NHÂN VĂN HÓA THẾ GIỚI” KHÔNG?

 

 CÓ “DANH NHÂN VĂN HÓA THẾ GIỚI” KHÔNG?


Phùng Hoài Ngọc vốn là một giảng viên lý luận văn học chẳng có học hàm học vị gì. Nhưng mọi chuyện ông “chĩa bút” vào đều xuất phát từ “một trái tim nóng và một cái đầu lạnh”. Những người như thế may ra mới là người làm khoa học đích thực ở đất nước ta. Còn PGS, TS hoặc GS, TSKH đi chăng nữa rất có thể lại cao giọng bảo vệ cho việc cộng điểm thi đại học cho Bà mẹ VN anh hùng (!). Xin chép lại một bài viết của ông để thấy rõ viết bài khoa học cần khách quan- trung lập, cần đi đến tận ngọn nguồn... như thế nào. Tất nhiên đoạn kết của ông "hơi chua"! 

 

Giải tỏa mấy ngộ nhận về " Ba danh nhân văn hóa thế giới" của Việt Nam

Phùng Hoài Ngọc
Từ trước đến nay, có lẽ bắt đầu từ 1965,  thông tin nhà nước (qua báo chí, đi vào sách vở và thực tiễn) đều lần lượt nói ba vị Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh được tổ chức UNESCO  tôn vinh là  “Danh nhân văn hóa thế giới”.


 Dân chúng nói theo đài báo. Nhà trường nói theo, còn đưa vào sách. Thầy nói, trò tin. Ai cũng tin hết.

Rồi một thời gian sau lại có ý kiến nói “sự việc không phải như vậy”. Thông tin nhiễu loạn, chẳng còn biết thế nào nữa. Vậy thì phải vào cuộc tìm văn bản gốc của UNESCO, nói có sách mách có chứng.

 Sự thật thế nào?

Không có danh hiệu “danh nhân văn hóa thế giới” do UNESCO tôn vinh, mà chỉ có danh sách những buổi lễ kỷ niệm ngày sinh hoặc ngày mất của các danh nhân do chính các nước thành viên UNESCO đề nghị lên, nội dung thuyết minh công tích được ghi nguyên văn theo nước đề nghị. Đó là một trong những hoạt động thường xuyên của UNESCO với mục đích thúc đẩy hiểu biết giữa các dân tộc. Điều này không giống như việc công nhận Di sản văn hóa thế giới, có bằng chứng nhận của UNESCO, công nhận xong là có ý nghĩa lâu dài và được đầu tư bảo tồn, phát huy.

Việc tổ chức lễ kỷ niệm như vậy đã được UNESCO thực hiện từ năm 1954, và từ năm 1962 thì UNESCO lên kế hoạch kỷ niệm từng 2 năm một. Việc chọn kỷ niệm ai hoặc cái gì là do các nước thành viên của UNESCO đề nghị, UNESCO xét hồ sơ  hợp lệ thì chấp thuận.

 Xem tài liệu gốc của UNESCO sau đây để hiểu rõ hơn về qui cách, tiêu chuẩn về việc vinh danh:

 Hồi đó chẳng mấy ai biết văn bản gốc của UNESCO ở đâu. Do đó người dân không nghi ngờ các ông nhà nước đã dịch bừa, lại cố ý nói mập mờ về một cái “danh hiệu” không tồn tại.

Chính xác “danh hiệu” ấy theo tiếng Anh là “great personalities”, tức “nhân vật nổi tiếng, kiệt xuất”. Nhân vật do các nước đề nghị lên, UNESCO chỉ việc đưa vào danh sách hàng năm, rồi gửi cho các nước thành viên LHQ để biết. UNESCO không cấp cái “danh hiệu” nào cả, họ chỉ làm đầu mối trung gian, chuyển hồ sơ nhân vật đó cho các nước thành viên khác để giao lưu, tìm hiểu và khuyến khích tổ chức kỷ niệm (theo ngày tháng năm sinh hoặc năm mất vào các năm chẵn bội số 50 hoặc 100, nếu là các danh nhân thì chỉ tổ chức sau khi họ đã qua đời). Riêng với nước có danh nhân, UNESCO có tài trợ một phần để tổ chức lễ. Bên cạnh đó, cơ quan UNESCO cũng tổ chức kỷ niệm riêng tại trụ sở của họ.

 Báo chí tuyên truyền Việt Nam thường nói “Danh nhân văn hóa thế giới” (?!). Đó là một sự khoa trương cường điệu hư danh. Thực chất các nhân vật ấy chỉ là danh nhân văn hóa tầm cỡ quốc gia thôi.
Lẽ thường ai cũng biết, “danh nhân thế giới” phải là người có công lao đóng góp chung, tạo ảnh hưởng tốt đến toàn nhân loại. Giả sử UNESCO đặt ra danh hiệu ấy để tôn vinh thì ắt hẳn phải đạt tiêu chí như trên. Ví dụ, nếu muốn, chúng ta sẽ tôn vinh ông Máy chữ, bà Máy in, ông Điện thoại di động, anh Internet. v.v… là các Danh nhân văn hóa thế giới mà ai cũng tâm phục khẩu phục, bởi thấy rõ ảnh hưởng tốt đến toàn thế giới. Và nếu như vậy thì hầu hết các nhà bác học, đặc biệt về khoa học kỹ thuật, y học đóng góp chung cho cả loài người đều được phong “Danh nhân văn hóa thế giới” mới phải lẽ.

 Nếu là “danh nhân văn hóa thế giới” thì bản gốc tiếng Anh ắt phải có tính từ như “Global” hoặc “World” đứng trước danh xưng mỗi nhân vật hoặc chung danh sách, chỉ ra tầm mức đẳng cấp quốc tế, khác với từ chỉ phạm vi quốc gia: “national”.

 Qua trao đổi với blogger Anh Vũ, chị đã cất công tìm ra tài liệu gốc gửi cho chúng tôi tham khảo. Đó là tài liệu gốc chụp nguyên vẹn bản tiếng Anh dạng pdf của tổ chức UNESCO.

 1/ VỀ NGUYỄN DU

 Năm 1965, Nguyễn Du được Hội đồng hòa bình thế giới công nhận là nhân vật văn hóa và ra quyết định kỷ niệm nhân dịp 200 năm năm sinh của ông (Wikipedia)

 Thông tin mới nhất về việc thi hào Nguyễn Du được UNESCO tổ chức kỷ niệm đăng trên trang Di sản thế giới của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch,

Link ở đây: http://disanthegioi.info/ArticleDetail.aspx?articleid=60953&sitepageid=277. đăng ngày 10 Tháng Mười Một 2013 , cho thấy sự ngộ nhận cố ý của Bộ văn hóa:
 Xin đọc phần trích trang web của Bộ văn hóa sau đây:

Cùng với một số nhân vật khác trên thế giới, đại thi hào Nguyễn Du của Việt Nam chính thức được vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới trong kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 37 của Tổ chức Unesco đang diễn ra tại thủ đô Paris, Pháp.

 Quyết định trên được Đại hội đồng đưa ra sau khi đã đối chiếu với các quy định chặt chẽ về việc vinh danh và biểu quyết Nghị quyết 191/EX32 của Hội đồng chấp hành về việc kêu gọi các quốc gia cùng vinh danh trong 2 năm 2014-2015 một số nhân vật có tầm ảnh hưởng đặc biệt trong khu vực cũng như trên thế giới. Một trong số đó là đại thi hào Nguyễn Du của Việt Nam.

 Nhiều năm qua, qua tác phẩm truyện Kiều, thế giới đã phần nào biết thêm về lịch sử, văn hóa của Việt Nam. Cũng vì lý do đó, mới có sự nhầm lẫn về việc Nguyễn Du đã được vinh danh Danh nhân văn hóa từ lâu. Thực tế năm 1965, Unesco có tổ chức một lễ kỷ niệm long trọng để tưởng nhớ tới đại thi hào Nguyễn Du và một số nhân vật của các quốc gia khác nhưng đấy chỉ đơn thuần là một hình thức tưởng nhớ những nhân vật có đóng góp và ảnh hưởng với thế giới. Phải chờ tới kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 37 này, đại thi hào Nguyễn Du mới thực sự được vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới. Trước đó, Việt Nam đã cóNguyễn Trãi được vinh danh là Danh nhân văn hóa và Chủ tịch Hồ Chí Minh được vinh danh Anh hùng giải phóng dân tộc.

 Còn tài liệu gốc của UNESCO về Nguyễn Du như sau, xem trang web của Unesco:


 - Các văn bản lưu liên quan đến các cuộc họp của Đại hội đồng năm 2013.

 - Ở các trang 59-62, mục 68 về việc tổ chức các lễ kỷ niệm trong 2 năm2014-2015 có nêu danh sách 108 sự kiện sẽ được tổ chức kỷ niệm, trong đó tên Nguyễn Du được nêu cuối cùng (vì danh sách xếp theo thứ tự tên nước).

 (…) (số thứ tự 108): 250th anniversary of the birth of Nguyễn Du, poet (1765-1820),Vietnam.

 dịch: Kỷ niệm lần thứ 250 năm sinh Nguyễn Du, nhà thơ (1765-1820), Việt Nam.

 Ba cái sai lầm của Bộ văn hóa TT&DL trong đoạn văn trên trang web di sản thế giới:

 Sai lầm 1: “…năm 1965, Unesco có tổ chức một lễ kỷ niệm long trọng để tưởng nhớ tới đại thi hào Nguyễn Du”, thực ra là “Hội đồng hòa bình thế giới quyết định kỷ niệm Nguyễn Du năm 1965”, chứ không phải UNESCO.

 Năm 1965, chúng ta từng được nghe thông tin: “Hội đồng hòa bình thế giới” (một tổ chức phản đế do Liên Xô chủ yếu lãnh đạo) vinh danh và kỷ niệm thi hào Nguyễn Du. (Vài chục năm nay không còn nghe thấy tăm hơi “Hội đồng hoà bình thế giới” hoạt động gì nữa, có lẽ tổ chức này cũng đã nghỉ hưu theo Liên Xô cũ). Lễ kỷ niệm đó được tổ thức ở Hà Nội năm 1965 không dính dáng tới tổ chức UNESCO. Giai đoạn ấy Việt Nam ta chưa “chơi” với UNESCO vì coi họ là tổ chức thuộc “phe đế quốc tư bản”.

 Sai lầm 2: Nói  “danh hiệu” là không đúng.

Không có “danh hiệu” ! chỉ có Danh sách các nhân vật và sự kiện cùng kỷ niệm trong một năm nào đó.

 Sai lầm 3: Không có “danh nhân văn hóa thế giới”. Chỉ có danh nhân của mỗi quốc gia thành viên Liên hiệp quốc, tự gửi đến cho UNESCO tập hợp lại, lên danh sách chung, gửi thông báo đến các quốc gia thành viên.

 (Báo Nhân Dân điện tử đã nhận ra sai lầm hệ thống, cố tránh cái danh hiệu ảo tưởng “danh nhân văn hóa thế giới”qua bản tin sau :“Tại kỳ họp thứ 37 Đại hội đồng UNESCO ở Pa-ri (Pháp) ngày 25-10-2013, Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du (1765 – 1820) nhà văn hóa, tác giả Truyện Kiều nổi tiếng của Việt Nam đã được chọn là nhân vật văn hóa do thế giới vinh danh, nhân kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào vào năm 2015”.

 2/ VỀ NGUYỄN TRÃI
  Trích Danh sách năm 1979-1980, văn bản gốc, dòng về Nguyễn Trãi, như sau:
 Danh sách đề nghị năm  1978:

Trích nguyên văn
 Paris 30/10/ 1978
UNESCO
ANNIVERSARIES OF GREAT PERSONALITIES AND IMPORTANT HISTORICAL EVENTS

 “Nguyen Trai – Vietnamese poet and scholar – 600 th Anniversary of Birth – Proposed by German Democratic Republic” (ghi nhầm nước giới thiệu là CHDC Đức) .

 Dịch:
Paris 30/10/1978
UNESCO
Những lễ kỷ niệm các nhân vật nổi tiếng và sự kiện lịch sử quan trọng.
Nguyễn Trãi- Nhà thơ, học giả Việt Nam, kỷ niệm 600 năm sinh- được đề nghị bởi Cộng hòa Dân chủ Đức). Văn bản năm 1978 UNESCO ghi nhầm là Nguyễn Trãi thuộc nước Cộng hòa Dân chủ Đức- điều này cho thấy việc tôn vinh này cũng được làm qua loa đại khái, chẳng quan trọng gì lắm). Văn bản sau đây sửa lại sai sót trên.

 Danh sách chính thức năm 1979:

 Paris 5/6/ 1979
 UNESCO

ANNIVERSARIES OF GREAT PERSONALITIES AND IMPORTANT HISTORICAL EVENTS

 Những lễ kỷ niệm các nhân vật nổi tiếng và sự kiện lịch sử quan trọng.

Nguyen Trai- Poet, creator of Vietnamese classical literature and national hero of Vietnam. Vietnam.
(Nguyễn Trãi, nhà thơ, người sáng lập văn học cổ điển Việt Nam, anh hùng dân tộc Việt Nam. Việt Nam).

 3/ VỀ HỔ CHÍ MINH

  Việc tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh Hồ Chí Minh đã được UNESCO chấp thuận vào năm 1987,  được ghi vào nghị quyết. Tuy nhiên, vì những lý do nào đó (chẳng hạn nhiều người Việt ở nước ngoài phản đối tới UNESCO), việc tổ chức lễ kỷ niệm này sau đó đã không được UNESCO đưa vào hoạt động chính thức.Việc này thể hiện trong văn bản của UNESCO năm 1989.

 * Nguyên văn Nghị quyết của UNESCO có ghi danh Hồ Chí Minh:

 Records of the General Conference
Twenty-fourth Session Paris, 20 October to 20 November 1987
(United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization: UNESCO)
Trang 135.

 Centenary of the birth of President Ho Chi Minh
 The General Conference,
 Considering that the international celebration of the anniversaries of eminent intellectual and cultural personalities contributes to the realization of Unesco’s objectives and to international understanding,
 Recalling 18 C/Resolution 4.351 concerning the commemoration of the anniversaries of great personalities and events which have left an imprint on the development of humanity,
Noting that the year 1990 will mark the centenary of the birth of President Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture.
 Considering that President Ho Chi Minh, an outstanding symbol of national affirmation, devoted his whole life to the national liberation of the Vietnamese people, contributing to the common struggle of peoples for peace, national independence, democracy and social progress,
 Considering that the important and many-sided contribution of Chi Minh in the fields of culture, education and the lizes the cultural tradition of the Vietnamese stretches back several thousand years, and that his President Ho arts crystal–people which ideals embody the aspirations of peoples in the affirmation of their cultural identity and the promotion of mutual understanding.
 Trong đoạn văn trên, ghi rằng “Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và nhà văn hóa xuất sắc của Việt Nam”(President Ho Chi Minh,Vietnamese hero of national liberation and great man of culture).

 Xin lưu ý rằng toàn bộ lời văn nói về phẩm chất, công lao của nhân vật đều do quốc gia đề cử tự viết tự chịu trách nhiệm, UNESCO chỉ ghi lại nguyên văn.

 * Khi tổ chức thực hiện nghị quyết Unesco, danh sách không có tên của Hồ Chí Minh nữa
(Danh mục các hoạt động kỷ niệm ngày sinh/ngày mất của các danh nhân và các sự kiện lịch sử trong 2 năm 1990-1991 do UNESCO xuất bản năm 1989)


Trang 3, ở đầu trang là những ngày lễ kỷ niệm tổ chức vào tháng 5/1990. Chỉ có 1 người và hai sự kiện, không có Hồ Chí Minh.

Kết luận

Xét cho cùng, việc tổ chức kỷ niệm danh nhân của các nước trên thế giới vốn là một hoạt động bình thường của UNESCO. Trước đây có lẽ họ cũng không coi trọng việc ấy lắm nên mới có những nhầm lẫn lung tung (như vụ Nguyễn Trãi văn bản 1978 ghi là Cộng hòa Dân chủ Đức, văn bản 1979 sửa lại là Việt Nam) hoặc bất nhất, thay đổi (như vụ danh nhân HCM đã đưa vô Nghị quyết lại không thực hiện ?). riêng Nguyễn Du thì năm 2013 mới là lần đầu được UNESCO đề cập, nhưng bao chí Việt Nam lại nhầm lẫn với Hội đồng hòa bình thế giới kỷ niệm năm 1965.

Do hạn chế của thời đại thiếu phương tiện thông tin, các nhà nước cộng sản giữ độc quyền thông tin theo “định hướng”, lại phù hợp với thói háo danh, hư danh và tuyên truyền trục lợi chính trị, Nhà nước đã gây nhiễu, nghi ngờ cho dân chúng và xã hội. Hi vọng thời đại “thế giới phẳng” với hệ thống internet hoành tráng sẽ không cho phép họ làm ăn như thế nữa.
PHN